Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, việc thẩm định dự án đầu tư của một doanh nghiệp không chỉ là một nhiệm vụ quan trọng mà còn là yếu tố quyết định sự thành bại của công ty đó. Đây là một quá trình kiểm tra đánh giá các nội dung cơ bản của dự án một cách độc lập, tách biệt với quá trình soạn thảo dự án nhằm xác định tính khả thi, hiệu quả và rủi ro của dự án.
Dự án đầu tư và phân loại dự án đầu tư
Dự án đầu tư là gì?
Căn cứ khoản 4 Điều 3 Luật Đầu tư 2020, “Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”.
Dự án đầu tư là tài liệu do chủ đầu tư chịu trách nhiệm lập, trong đó trình một cách bày hết sức đầy đủ và chi tiết các nội dung có liên quan đến việc thực hiện đầu tư sau này nhằm mục đích khẳng định được sự đúng đắn của chủ trương đầu tư và hiệu quả của đồng vốn.
Dự án đầu tư là văn kiện phản ánh trung thực kết quả nghiên cứu cụ thể toàn bộ các vấn đề về: thị trường, kinh tế, kỹ thuật, tài chính…có ảnh hưởng trực tiếp tới sự vận hành, khai thác và tính sinh lợi của công cuộc đầu tư.
Thẩm định dự án đầu tư là gì?
Thẩm định dự án đầu tư là việc nghiên cứu, phân tích khách quan, khoa học, toàn diện tất cả nội dung kinh tế kỹ thuật của dự án, đặt trong mối tương quan với môi trường tự nhiên, kinh tế xã hội để quyết định đầu tư, tài trợ vốn cho dự án.
Phân loại dự án đầu tư
Căn cứ khoản 5, 6, 7 Điều 3 Luật Đầu tư 2020, có thể phân loại dự án đầu tư như sau:
- Dự án đầu tư mở rộng: Là dự án đầu tư phát triển dự án đầu tư đang hoạt động bằng cách mở rộng quy mô, nâng cao công suất, đổi mới công nghệ, giảm ô nhiễm hoặc cải thiện môi trường;
- Dự án đầu tư mới: Là dự án đầu tư thực hiện lần đầu hoặc dự án đầu tư độc lập với dự án đầu tư đang hoạt động;
- Dự án đầu tư khởi nghiệp sáng tạo: Là dự án đầu tư thực hiện ý tưởng trên cơ sở khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới và có khả năng tăng trưởng nhanh.
Mục đích thẩm định dự án đầu tư
Thẩm định dự án đầu tư tạo cơ sở vững chắc cho hoạt động đầu tư có hiểu quả. Các kết luận rút ra từ quá trình thẩm định là cơ sở để các đơn vị, nhà đầu tư, doanh nghiệp, cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước ra quyết định đầu tư, cho phép đầu tư hoặc tài trợ cho dự án. Mục đích thẩm định dự án đầu tư gồm:
- Đánh giá tính hợp lý của dự án: Giúp chủ đầu tư lựa chọn được phương án đầu tư tốt nhất
- Đánh giá tính hiệu quả của dự án: Giúp cơ quan quản lý nhà nước đánh giá được tính phù hợp của dự án đối với quy hoạch phát triển chung của ngành, quốc gia trên các mặt mục tiêu, quy mô, hiệu quả
- Đánh giá tính khả thi của dự án: Xác định được mặt lợi, hại của dự án
- Xác định được mặt lợi, hại của dự án
- Xác định rõ tư cách pháp nhân của các bên tham gia đầu tư
Phương pháp thẩm định dự án đầu tư
Để đảm bảo chất lượng của việc thẩm định dự án đầu tư, chúng ta có thể áp dụng một trong 5 phương pháp thẩm định dưới đây.
Phương pháp thẩm định trình tự
Quá trình thẩm định dự án đầu tư được thực hiện theo trình tự từ tổng quát đến chi tiết, với các bước như sau:
- Thẩm định tổng quát: Là việc xem xét tổng quát các nội dung cần thẩm định giá dự án đầu tư, qua đó phát hiện các vấn đề hợp lý hay chưa hợp lý cần phải đi sâu xem xét. Tuy nhiên, việc đánh giá tổng thể chưa có chiều sâu, khó tìm ra những yếu tố bất hợp lý để sửa đổi, chấp nhận hoặc loại bỏ.
- Thẩm định chi tiết: Được tiến hành sau thẩm định tổng quát. Việc thẩm định giá dự án đầu tư được tiến hành với từng nội dung của dự án từ việc thẩm định các điều kiện pháp lý đến phân tích hiệu quả tài chính và kinh tế – xã hội của dự án. Người thẩm định đưa ra nhận xét về từng nội dung và các tiêu chí xem xét để đánh giá, phê duyệt, loại bỏ hoặc sửa đổi. Nếu một số khía cạnh thực chất của dự án bị từ chối, có nghĩa là dự án không còn giá trị đáng kể khi thực hiện, toàn bộ đề xuất có thể bị từ chối bất kể nội dung.
Phương pháp so sánh, đối chiếu các chỉ tiêu
So sánh và đối chiếu các nội dung dự án với các tiêu chuẩn, quy định pháp luật, tiêu chuẩn kỹ thuật và kinh tế thích hợp, cũng như các thông lệ trong và ngoài nước, và kinh nghiệm thực tế để phân tích và so sánh để lựa chọn phương án tối ưu. Phương pháp này được thực hiện dựa trên một số chỉ tiêu như sau:
- Chỉ số cấp kỹ thuật xây dựng, tiêu chuẩn thiết kế quốc gia
- Chỉ số kỹ thuật thiết bị
- Các chỉ tiêu tổng hợp về cơ cấu vốn và suất đầu tư.
- Các tiêu chí trong về sản xuất: chi phí nhân lực, vật lực, quản lý, tiền lương, tiêu hao năng lượng sản xuất,…
Phương pháp phân tích độ nhạy
Phương pháp này được sử dụng để đánh giá mức độ an toàn và kiểm tra tính mạnh mẽ của các kết quả tính toán trước sự biến đổi của các yếu tố khách quan có thể xảy ra trong quá trình thực hiện dự án. Để thực hiện điều này, cần tiến hành phân tích độ nhạy của dự án.
Cơ sở của phương pháp này là dự kiến một số tình huống bất trắc có thể xảy ra trong tương lai đối với dự án, như vượt chi phí đầu tư, sản lượng đạt thấp, giá trị chi phí đầu vào tăng và giá tiêu thụ sản phẩm giảm, có thay đổi về chính sách theo hướng bất lợi…
Quy trình thực hiện phương pháp này:
- Bước 1: Tìm ra các yếu tố có ảnh hưởng lớn đến chỉ tiêu xem xét
- Bước 2: Sắp xếp các yếu tố và cho chúng thay đổi theo 1 tỉ lệ nhất định (tăng, giảm 5%, 10%, 15%).
- Bước 3: Tiến hành tính toán lại những chỉ tiêu hiệu quả và đưa ra kết luận.
Phương pháp dự báo
Phương pháp dự báo sử dụng các số liệu điều tra thống kê và áp dụng các phương pháp dự báo phù hợp để thẩm định và kiểm tra cung cầu về sản phẩm của dự án, thiết bị, nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào khác. Tất cả những yếu tố này có tác động trực tiếp đến tính khả thi của dự án.
Nếu số liệu thống kê, dự báo và dự án đầu tư mang lại lợi nhuận cao, rủi ro tối thiểu, tính khả thi cao thì thẩm định viên sẽ quyết định đầu tư và ngược lại.
Phương pháp triệt tiêu rủi ro
Để đảm bảo rằng dự án được hoàn thành và hoạt động một cách hiệu quả, việc dự đoán các rủi ro tiềm năng là cần thiết. Điều này giúp chúng ta có biện pháp phòng ngừa và hạn chế tối đa tác động của rủi ro, hoặc phân tán rủi ro giữa các đối tác liên quan đến dự án.
Các rủi ro thường sẽ được phân thành hai giai đoạn:
- Giai đoạn khi thực hiện dự án: Trong giai đoạn thực hiện dự án, có thể có rủi ro liên quan đến tiến độ, hạn chế chi tiêu tài chính hoặc tác động khách quan. Bao gồm rủi ro về sự chậm trễ, đầu tư quá mức, cung cấp dịch vụ không đảm bảo, rủi ro tài chính, rủi ro thiên tai và rủi ro chính trị.
- Giai đoạn sau khi dự án đi vào hoạt động: Trong giai đoạn này, rủi ro thường liên quan đến tài chính và quản lý nguồn nhân lực. Bao gồm rủi ro đầu tư không có kế hoạch, thiếu vốn thương mại, rủi ro quản lý dự án và rủi ro bất khả kháng (thiên tai, hỏa hoạn, v.v.)