Việt Nam đang hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế thế giới, các khu công nghiệp được xây dựng tại nhiều địa phương trên toàn quốc. Vì vậy, việc thẩm định giá tài sản là máy móc thiết bị, nhà xưởng, vật tư, hàng hóa, dây chuyền công nghệ… đóng vai trò không nhỏ trong việc phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Thẩm định giá động sản là việc đánh giá lại giá trị của các quyền sở hữu tài sản cụ thể phù hợp với thị trường tại một thời điểm nhất định với những phương pháp phù hợp.
Động sản là gì?
Theo Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định: Động sản là những tài sản không phải là bất động sản, trong đó bất động sản là các loại tài sản sau: đất đai; nhà và công trình xây dựng gắn liền với đất đai; tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; tài sản khác theo quy định của pháp luật.
Từ đó ta có thể hiểu Động sản là tài sản có thể chuyển dịch hoặc di dời từ nơi này sang nơi khác trong không gian nhất định mà vẫn giữ nguyên tính năng, công dụng.
Một số loại động sản tiêu biểu như: máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ, nhà xưởng, thiết bị chuyên dùng, vật tư, phương tiện giao thông vận tải, hàng hóa…
Vai trò thẩm định giá động sản
Thẩm định giá động sản có vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin chính xác về giá trị của tài sản, phục vụ cho các mục đích khác nhau.
- Xác định dúng giá trị của máy móc thiết bị.
- Đảm bảo tính minh bạch, công bằng trong giao dịch.
- Giảm thiểu rủi ro cho các nhà đầu tư.
- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên liên quan.
Mục đích thẩm định giá động sản
- Thế chấp tài sản, bảo lãnh tín dụng;
- Mua bán, chuyển nhượng, góp vốn liên doanh;
- Thành lập doanh nghiệp, cổ phần hóa doanh nghiệp;
- Xử lý nợ, giải thể doanh nghiệp;
- Đền bù, bảo hiểm, khiếu nại;
- Hoạch toán kế toán, tính thuế ;
- Tư vấn và lập dự án đầu tư;
- Chứng minh tài sản, du học, du lịch, định cư….;
- Các mục đích khác
Tài sản thẩm định giá động sản
a. Tài sản chưa qua sử dụng (mua sắm mới).
b.Tài sản đã qua sử dụng:
- Đây là loại tài sản không còn đảm bảo đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật về chất lượng theo thiết kế ban đầu của nhà sản xuất do chế độ bảo quản hoặc đã tiến hành vận hành sử dụng.
- Chất lượng còn lại của tài sản không đồng đều, các chi tiết, bộ phận đã bị thay đổi, sửa chữa, nâng cấp cho phù hợp với mục đích sử dụng.
- Giá trị của tài sản đã qua sử dụng có thể được sử dụng 1 trong 2 cơ sở thẩm định đó là cơ sở giá trị thị trường và cơ sở giá trị phi thị trường tuỳ theo mức độ thông dụng, tỷ lệ chất lượng còn lại của tài sản cần thẩm định giá và mục đích thẩm định
c) Tài sản không còn giá trị sử dụng
- Khi tài sản không còn giá trị sử dụng thì mức giá trị còn lại được gọi là giá trị thanh lý. Giá trị thanh lý phản ánh giá trị còn lại của một tài sản (trừ đất đai) khi tài sản đó đã hết hạn sử dụng và được bán thanh lý.
- Với loại tài sản này thì việc thẩm định giá tài sản không hề đơn giản do việc chia tách, phân loại các thành phần cấu tạo nên tài sản đó, ước tính trọng lượng khi không đủ điều kiện cân, đong đo, đếm, chạy thử cụ thể cho từng tài sản.
Cách tiếp cận và phương pháp thẩm định giá động sản
Theo Thông tư 32/2024/TT-BTC ngày 16/5/2024 ban hành các chuẩn mực Thẩm định giá Việt Nam về cách tiếp cận, có 3 cách tiếp cận được nêu rõ trong thông tư, bao gồm:
- Cách tiếp cận từ thị trường
- Cách tiếp cận từ chi phí
- Cách tiếp cận từ thu nhập
Cách tiếp cận từ thị trường
Cách tiếp cận từ thị trường xác định giá trị của tài sản thẩm định giá thông qua việc so sánh tài sản thẩm định giá với các tài sản so sánh đã có các thông tin về giá trên thị trường.
Tùy theo loại tài sản, cách tiếp cận từ thị trường có thể được cụ thể hóa thành các phương pháp gồm phương pháp so sánh, phương pháp tỷ số bình quân và phương pháp giá giao dịch.
Phương pháp tỷ số bình quân và phương pháp giá giao dịch chỉ áp dụng đối với thẩm định giá doanh nghiệp và được quy định tại Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam về Thẩm định giá doanh nghiệp. Với thẩm định giá động sản thì chỉ áp dụng phương pháp so sánh cho cách tiếp cận này.
Phương pháp so sánh xác định giá trị của tài sản thẩm định giá dựa trên cơ sở đối chiếu, phân tích và đánh giá các yếu tố so sánh của các tài sản so sánh với tài sản thẩm định giá từ đó điều chỉnh mức giá của các tài sản so sánh làm cơ sở ước tính giá trị của tài sản thẩm định giá.
Cách tiếp cận từ chi phí
Cách tiếp cận từ chi phí thường được áp dụng khi thuộc một trong các trường hợp sau:
Không có đủ thông tin trên thị trường để áp dụng cách tiếp cận từ thị trường và cách tiếp cận từ thu nhập.
Có dự định tạo ra một tài sản mới hoặc khi thẩm định giá công trình mới được xây dựng hoặc tài sản mới được chế tạo.
So sánh, đối chiếu với các cách tiếp cận thẩm định giá khác.
Với cách tiếp cận từ chi phí, thẩm định viên thường sử dụng các phương pháp thẩm định giá động sản sau:
- Phương pháp chi phí thay thế xác định giá trị của tài sản thẩm định giá dựa trên cơ sở chênh lệch giữa chi phí thay thế và giá trị hao mòn của tài sản thẩm định giá.
- Phương pháp chi phí tái tạo xác định giá trị của tài sản thẩm định giá dựa trên cơ sở chênh lệch giữa chi phí tái tạo và giá trị hao mòn của tài sản thẩm định giá.
- Phương pháp tổng cộng (tên khác là phương pháp tài sản) xác định giá trị của tài sản thẩm định giá bằng cách cộng các giá trị riêng lẻ của các bộ phận của tài sản thẩm định giá.
Cách tiếp cận từ thu nhập
Cách tiếp cận từ thu nhập được áp dụng đối với các tài sản tạo ra thu nhập cho người sở hữu/người sử dụng, có thể dự báo được thu nhập từ tài sản trong tương lai và tính được tỷ suất vốn hóa hoặc tỷ suất chiết khấu phù hợp
Hồ sơ thẩm định giá động sản
Hồ sơ chung thẩm định giá động sản:
- Giấy yêu cầu thẩm định giá khách hàng lập (có mẫu kèm theo);
- Giấy ủy quyền nếu tài sản không thuộc sở hữu của khách hàng trực tiếp liên hệ thẩm định giá;
- Quyết định cho phép thanh lý của cơ quan có thẩm quyền cấp (đối với tổ chức);
- Danh mục tài sản yêu cầu thẩm định giá(có mẫu kèm theo);
- Xuất xứ hàng hoá: nước sản xuất, năm sản xuất;
- Sổ tài sản, thẻ tài sản theo dõi việc trung, đại tu, hóa đơn mua thiết bị, phụ tùng thay thế phục vụ nâng cấp, bảo trì máy móc thiết bị, phương tiện vận tải (nếu có);
- Các biên bản định giátài sản phục vụ công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp khi góp vốn liên doanh, phục vụ công tác kiểm kê của Nhà nước … tại từng thời điểm (nếu có);
- Tài liệu kỹ thuật, catalogue: tính năng kỹ thuật, công suất thiết kế, năng lượng tiêu hao …;
- Chứng thư giám định chất lượng còn lại, Biên bản giám định chất lượng còn lại của cơ quan có thẩm quyền (nếu có).
Giấy tờ bổ sung thêm thẩm định giá động sản đối với:
Phương tiện vận tải đường bộ
- Giấy đăng ký phương tiện vận tải;
- Giấy chứng nhận đăng kiểm;
- Giấy chứng nhận bảo hiểm (nếu có);
- Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật đối với phương tiện chở vật liệu cháy nổ, nguy hiểm (xe bồn chở gas, hóa chất…) (nếu có).
Phương tiện vận tải đường thủy
- Giấy chứng nhận đăng ký phương tiện thủy nội địa;
- Biên bản kiểm tra kỹ thuật phương tiện thủy nội địa;
- Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật phương tiện thủy nội địa;
- Giấy chứng nhận quốc tế về an ninh tàu biển (nếu có).
Tài sản nhập khẩu
- Hợp đồng thương mại;
- Packing list, invoice;
- Tờ khai hải quan;
- Giấy chứng nhận xuất xứ, giấy giám định chất lượng;
- Hóa đơn mua bán kê khai chi tiết.
Phí thẩm định giá động sản
Theo Điều 57 Luật giá 2023 chỉ rõ cách xác định giá dịch vụ thẩm định giá động sản như sau: Giá dịch vụ thẩm định giá được ghi trong hợp đồng thẩm định giá, thực hiện theo giao dịch dân sự giữa doanh nghiệp thẩm định giá với khách hàng thẩm định giá và phải bảo đảm nguyên tắc bù đắp chi phí thực tế hợp lý để thực hiện đầy đủ các hoạt động theo phạm vi công việc được quy định tại Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam.
Theo đó, chi phí thẩm định giá được hiểu là thỏa thuận giữa doanh nghiệp thẩm định giá và khách hàng và được thể hiện mức phí đó trong hợp đồng thẩm định giá.
Tại VIV, phí thẩm định giá động sản được tính theo công thức sau:
Chi phí thẩm định giá = Giá trị động sản x Tỷ lệ (%)
Trong đó:
- Giá trị động sản là giá trị được xác định theo kết quả thẩm định giá.
Tỷ lệ (%) là tỷ lệ phần trăm chi phí thẩm định giá trên giá trị động sản.